Sân vườn Huế, một nét đặc trưng
Huế - Thành phố được vinh danh là Thành Phố Vườn, Thành phố của sân vườn xưa, bởi nổi tiếng với rất nhiều cây xanh, không gian xanh và các kiểu vườn như vườn Ngự, vườn Lăng, vườn Chùa và vườn Nhà.
Nhà vườn là một đặc trưng rất Huế. Huế có rất nhiều nhà vườn nổi tiếng. Nhà vườn Huế gắn liền với nghệ thuật kiến trúc nhà rường truyền thống, cùng những giá trị văn hóa độc đáo của xứ Huế nói chung và các dòng họ nổi tiếng nói riêng.
Nhà vườn Huế nổi tiếng
Một trong những nhà vườn nổi tiếng phải kể đến là nhà vườn Lạc Tịnh Viên ở số 65 đường Phan Đình Phùng, thành phố Huế.
Công tử Nguyễn Phúc Hồng Khẳng (1861 – 1930) là con trai thứ 13 của nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (tức Nguyễn Phúc Miên Thẩm - Hoàng tử thứ 10 của vua Minh Mạng và là em ruột của vua Thiệu Trị).

Nhà vườn Lạc Tịnh Viên
Năm 1889, khi đã trưởng thành, công tử Hồng Khẳng tìm mua một sở đất rộng 8 sào ở bên bờ sông Lợi Nông (con sông mà người Huế quen gọi là sông An Cựu), dựng một ngôi nhà, vừa để ra ở riêng, vừa để phụng dưỡng thân mẫu của ông là bà Trương Thị Thú (vợ của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm). Ông đặt tên nhà là Lạc Tịnh Viên với ngụ ý ngôi nhà là chốn nghỉ ngơi an lạc, thanh tịnh.
Lúc đầu, Lạc Tịnh Viên chỉ là một ngôi nhà tranh bình dị. Đến năm 1897, Hồng Khẳng, lúc này đã là Hiệp tá Đại học sĩ, cho triệt giải ngôi nhà tranh và dựng thay vào đó một ngôi nhà ngói ba gian hai trái khá bề thế trên nền đất cũ được tôn cao. Ngôi nhà được thiết kế theo phong cách nhà rường truyền thống Huế.
Kiến trúc và sân vườn Huế
Cũng như hầu hết các công trình xây dựng ở Huế, tổng thể kiến trúc của Lạc Tịnh Viên tuân thủ chặt chẽ thuật phong thủy của Á Đông.
Nhà chính quay mặt về hướng Nam. Trước mặt nhà có bình phong hình cuốn thư cách điệu với các ô hình lục giác dài ở chính giữa, các ô vuông chéo ở hai bên, để ngăn chặn điều xấu. Bức bình phong này còn có điểm đặc biệt là ở trên đỉnh giữa, có hình mái nhà, thờ 3 ông Phúc – Lộc – Thọ, để không chỉ ngăn điều xấu mà còn cầu mong phúc, lộc, thọ cho đại gia đình.
Trước cổng nhà có bến thuyền, lấy sông Lợi Nông làm Minh đường. Đường lớn từ cổng đi vào, hai bên trồng cây cảnh và cây ăn trái, tỏa bóng xanh mát bốn mùa.
Ngôi nhà chính, ngoài mái ngói, nền gạch, toàn bộ kiến trúc còn lại đều làm bằng gỗ với nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh sảo, đặc trưng của xứ Huế thời bấy giờ.
Có thể thấy ở ngôi nhà rường truyền thống này những nét đặc trưng nhất của nhà rường xứ Huế: Những hàng cột lim đen bóng thể hiện sự vững chãi với thời gian mà vẫn thanh thoát. Những vì kèo, liên ba, đòn tay, lan can, đố bản được chạm khắc các hoa văn, họa tiết trang trí truyền thống như tứ linh, tứ quý, bát bửu, hoa lá... tinh xảo nhưng rất dung dị. Những lá cửa Bàn khoa “Thượng song hạ bản” rất Á Đông, lịch lãm và sang trọng nhưng vẫn rất khiêm nhường.
Gian thờ ở giữa, trước thờ phật, sau thờ ông bà, tổ tiên lúc nào cũng hoa trái, nhang đèn, trầm trà tỏa hương thơm ngát, trang trọng và tôn kính.
Trong nhà có nhiều hoành phi, câu đối mà nội dung đều thể hiện tinh thần hiếu nghĩa, nhân đức của gia chủ và để răn dạy con cháu.
Suốt đời làm quan của mình qua 3 triều vua, Hồng khẳng nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, chính trực. Năm 1908, khi đang làm Tuần vũ ở Hà Tĩnh, ông đã từ quan để phản đối việc đàn áp phong trào chống sưu thuế của các sĩ phu yêu nước và đồng bào miền Trung.
Sau này, khi Khải Định lên ngôi, ông lại được trọng dụng và được thăng lên Thượng Thư. Nhưng chỉ 3 năm sau, khi thấy triều chính rối ren, ông lại xin nghỉ hưu, về nhà viết sách, đọc thơ và dạy dỗ con cháu. Tập thơ “Lạc Tịnh Viên thi thảo” của ông đã tập trung gần hết những sáng tác thơ tiêu biểu của ông, hầu hết được viết bằng chữ Hán, thể hiện rất rõ tinh thần yêu nước và những ưu tư của ông về thế thái nhân tình đương thời. Câu đối lớn được ông treo trước cửa lớn Hy Trần Trai cũng thể hiện rõ tư tưởng của ông:
Vô hà nhân phẩm thanh như ngọc
Bất tục văn chương đạm tự lưu.
Nghĩa là:
Văn chương đạm bạc không mùi tục / Nhân phẩm trong veo chẳng vết nhơ.
Vợ của Hồng Khẳng là bà Trương Thị Bích, cũng là một người phụ nữ tài hoa, hay chữ. Năm 1914, bà đã viết 2 tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ là “Phụ đạo ca”, đề cao Công, Dung, Ngôn, Hạnh để răn dạy con cháu, và tập “Thực phổ bách thiên” với 412 câu thơ dạy cách làm 100 món ăn cung đình và dân gian nổi tiếng, rất hay, dễ nhớ và vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay.
Giữa nhà chính và bình phong là một nhà vỏ cua, có mái rộng nhưng không có vách, bốn bề phong quang, dùng để thưởng trà, ngâm vịnh thơ phú, sinh hoạt gia đình và làm phúc cho người nghèo. Vì vậy, nhà vỏ cua được đặt tên là nhà Nhân Hậu. Bức hoành phi mang tên Nhân Hậu được treo cao chính giữa là của những người dân xứ Thanh xưa gửi tặng bởi tri ân tấm lòng nhân hậu của quan ngài Hồng Khẳng khi ông còn làm quan Bố Chánh ở Thanh Hóa.
Khi ngôi nhà được hoàn thành, ông chú Tuy Lý Vương Miên Trinh (tức Nguyễn Phúc Miên Trinh - Hoàng tử thứ 11 của vua Minh Mạng, em ruột của Tùng Thiện Vương) đã tặng một bức hoành phi mang ba chữ Hán “Hy Trần Trai” để đặt tên cho ngôi nhà, với ngụ ý so sánh tài đức của Hồng Khẳng với Quân Trần, con của Chu Công bên Tàu, một danh sĩ được người Trung Hoa tôn vinh là bậc tài đức, hiếu nghĩa vẹn toàn.
Năm 1901, Hồng Khẳng cho dựng thêm ngôi nhà nhỏ phía bên trái, cũng là kiểu nhà rường nhưng nhỏ hơn nhà chính Hy Trần Trai, dùng làm nơi cho con cháu ăn ở, học hành, đặt tên nhà là “Di tâm thích thể đường”. Tên của ngôi nhà cũng mang ẩn ý sâu xa trong việc giáo dục con cháu học hành, tu tâm tích đức.
Đến năm 1910, Hồng Khẳng lại cho dựng thêm ngôi nhà mới phía bên phải, quay mặt đối diện với nhà “Di tâm Thích Thể Đường” qua lòng nhà “Nhân hậu”, và lấy chính tên hiệu của mình đặt tên cho ngôi nhà là nhà “Vấn Trai”, ngụ ý tự nhắc nhở mình trong việc lập thân và gia nghiệp. Nhà Vấn Trai được chủ nhân dùng làm nơi làm việc, sáng tác và tiếp khách văn chương.
Khác với nhà chính Hy Trần Trai và nhà Di Tâm Thích Thể Đường, Nhà Vấn Trai được xây dựng theo phong cách kiến trúc tây phương, thể hiện sự ảnh hưởng của kiến trúc tây phương thời bấy giờ, nhưng gia chủ đã rất tinh tế và khéo léo trong phối cảnh mặt tiền và trang trí nội thất của ngôi nhà để tạo nên vẻ hòa hợp giữa hai dòng kiến trúc Á Đông và Tây Phương.
Kiến trúc cảnh quan sân vườn Lạc Tịnh Viên
Ngoài các công trình kiến trúc, trong khuôn viên nhà, chủ nhân còn thiết kế sân vườn có bể cạn non bộ, hồ cá nhỏ, trồng đủ các loại cây cảnh, cây ăn trái và các loài hoa theo lớp lang rất quy củ, tạo cho ngôi nhà một cảnh sắc thiên nhiên tươi mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông.
Đến đây, dường như tổng thể kiến trúc của Lạc Tịnh Viên đã đạt đến độ viên mãn trong ý muốn của chủ nhân về một cõi Lạc Tịnh. Nghệ thuật kiến trúc và cảnh quan sân vườn của Nhà vườn Lạc Tịnh Viên như đã bao hàm đầy đủ triết lý sống đầy nhân bản của chủ nhân, làm cho khu nhà vườn trở thành một cõi nhân gian thu nhỏ mà ở đó con người và thiên nhiên giao hòa thật thân thiện; ở đó chủ nhân và con cháu các thế hệ của Lạc Tịnh Viên nối nhau duy trì truyền thống “Thi Lễ Truyền gia” cho đến hôm nay và cho cả mai sau. Thực tế, con cháu của Hồng Khẳng hầu hết đều thành đạt cả dưới thời phong kiến quân chủ và thời hiện đại sau này.
Gìn giữ cho muôn đời sau
Tháng 9/2007, UBND tỉnh TTH đã có quyết định xếp hạng Nhà Lạc Tịnh Viên là Di tích Văn hóa Kiến trúc Mĩ thuật cấp tỉnh.
Các nhà nghiên cứu, các tập san kiến trúc, mĩ thuật,các nhà thiết kế sân vườn, các báo, các du khách thập phương một lần ghé thăm Lạc Tịnh Viên đều không khỏi ngỡ ngàng và không tiếc lời ca ngợi về một nét đẹp Huế xưa vẫn tồn tại thật lặng lẽ, thanh tịnh giữa một Huế nay hiện đại không ít ồn ào.
Các thế hệ con cháu của Lạc Tịnh Viên đến hôm nay vẫn cố gắng gìn giữ không chỉ ngôi nhà vườn với những nét kiến trúc độc đáo, cổ kính mà cả những giá trị lịch sử, văn hóa và truyền thống gia đình với tính nhân văn sâu sắc ẩn sau vẻ cổ kính và thanh tịnh ấy. Đó chính là một nét Huế xưa hiếm có cho đến ngày nay. Âu đó cũng là điều đáng được bảo tồn, gìn giữ và trân trọng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét